PVLC Mùa Thường Niên Tuần XII Thứ 3 &
3 Thánh Phaolino Nolano, Gioan Fisher và Thomas More ngày 22/6

Bài Đọc I: (Năm I) St 13, 2. 5-18

"Bác không muốn có sự bất b́nh giữa bác và cháu: v́ chúng ta là anh em với nhau".

Trích sách Sáng Thế.

Bấy giờ Abram rất giàu, có nhiều vàng bạc. Ông Lót, người đi với Abram, cũng có nhiều đàn chiên, ḅ và lều trại. Miền đó không đủ chỗ cho cả hai cùng ở, v́ họ có nhiều tài sản, nên không thể ở chung với nhau. Bởi thế các người chăn chiên của Abram và của Lót hay xảy ra căi lẫy nhau. Khi ấy dân Canaan và dân Phêrêzê ở miền này.

Vậy Abram nói cùng Lót rằng: "Bác không muốn có sự bất b́nh giữa bác và cháu, giữa các người chăn chiên của chúng ta, v́ chúng ta là anh em với nhau. Trước mặt cháu có cả một miền rộng răi, xin cháu hăy ĺa khỏi bác: nếu cháu đi bên tả, th́ bác sẽ đi bên hữu; nếu cháu chọn phía tay phải, th́ bác sẽ đi về phía tay trái". Vậy Lót ngước mắt lên trông thấy cả miền đồng bằng sông Giođan, có nước dồi dào. (Trước khi Chúa huỷ diệt thành Sôđôma và Gômôra, cả miền ấy và phía Segor như vườn địa đàng của Chúa và như đất Ai-cập). Lót chọn miền đồng bằng sông Giođan và đi về phía đông. Thế là hai bác cháu ĺa xa nhau. Abram ở lại đất Canaan, c̣n Lót ở các đô thị gần sông Giođan, và cư ngụ tại Sôđôma. Dân thành Sôđôma rất xấu xa, v́ quá tội lỗi trước mặt Chúa.

Sau khi Lót đi rồi, Chúa phán cùng Abram rằng: "Hăy ngước mặt lên và từ nơi ngươi đang ở, hăy nh́n tứ phía: đông tây nam bắc. Tất cả đất mà ngươi trông thấy, Ta sẽ ban vĩnh viễn cho ngươi và ḍng dơi ngươi. Ta sẽ làm cho con cháu ngươi đông như bụi đất. Nếu ai có thể đếm được bụi đất th́ mới có thể đếm được con cháu ngươi. Hăy chỗi dậy và đi khắp miền này, v́ chưng Ta sẽ ban miền này cho ngươi". Bởi vậy Abram di chuyển lều trại đến ở thung lũng Mambrê, thuộc miền Hebron, và dựng bàn thờ kính Chúa ở đó.

Đó là lời Chúa.

 

Đáp Ca: Tv 14, 2-3ab. 3cd-4ab. 5

Đáp: Lạy Chúa, ai sẽ được ở trong đền tạm Chúa? (c. 1a)

Xướng: 1) Người sống thanh liêm và thực thi công chính, và trong ḷng suy nghĩ điều ngay, và lưỡi không bịa lời vu khống. - Đáp.

2) Người không làm ác hại đồng liêu, cũng không làm nhục cho ai lân cận. Người coi rẻ đứa bất nhân, nhưng kính yêu những ai tôn sợ Chúa. - Đáp.

3) Người không xuất tiền đặt nợ thu lời, cũng không ăn hối lộ hại người hiền lương. Người thực thi những điều kể đó, th́ muôn đời chẳng có lung lay. - Đáp.

 

Alleluia: Tv 118, 27

Alleluia, alleluia! - Xin Chúa cho con hiểu đường lối những huấn lệnh của Chúa, và con suy gẫm các điều lạ lùng của Chúa. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 7, 6. 12-14

"Tất cả những ǵ các con muốn người ta làm cho các con, th́ hăy làm cho người ta".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Đừng lấy của thánh mà cho chó, và đừng vất ngọc trai trước mặt heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi quay lại cắn xé các con.

"Vậy tất cả những ǵ các con muốn người ta làm cho các con, th́ chính các con hăy làm cho người ta như thế! Đấy là điều mà lề luật và các tiên tri dạy.

"Các con hăy vào qua cửa hẹp, v́ cửa rộng và đường thênh thang là lối đưa đến hư mất, và có nhiều kẻ đi lối ấy; cửa và đường đưa tới sự sống th́ chật hẹp, và ít kẻ t́m thấy".

Đó là lời Chúa.

Related image

 

 

Suy Niệm Cảm Nghiệm

 

 

 4 Nhân Đức Trụ về 3 Nguyên Tắc Sống Khôn Ngoan


 

Bài Phúc Âm cho Thứ Ba Tuần XII Thường Niên hôm nay vẫn tiếp tục Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giêsu được Thánh kư Mathêu (7:6,12-14) chất chứa 4 luân đức của Kitô giáo hay cũng được gọi là 4 nhân đức trụ, những nhân đức cho thấy 3 nguyên tắc sống khôn ngoan sau đây:

 

Trước hết là 4 nhân đức trụ. Tu đức Kitô giáo liệt kê 7 nhân đức rơ ràng, đó là 3 thần đức và 4 luân đức. Ba thần đức tức là 3 nhân đức đối thần, 3 nhân đức hướng về Thiên Chúa là đối tượng của 3 nhân đức này. Đó là Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến, 3 thần đức được phú bẩm vào tâm hồn Kitô hữu ngay từ khi họ lănh nhận Phép Rửa, nhờ đó họ có thể tác hành xứng đáng là một người con Thiên Chúa, người con được thông phần với bản tính thần linh của Thiên Chúa và sống sự sống thần linh với Thiên Chúa và như Thiên Chúa. C̣n 4 luân đức là 4 nhân đức trụ của con người, lấy con người làm đối tượng và về tư cách làm người cần phải có của con người để họ có thể nên người trước khi nên thánh. Đó là nh6an đức khôn ngoan, công bằng, dũng cảm và tiết độ.

 

Trong Bài Giảng Trên Núi về Phúc Đức Trọn Lành, Chúa Giêsu đă dạy các tông đồ của Người là thành phần phải công chính thánh thiện hơn thành phần biệt phái và luật sĩ, là muối đất và là ánh sáng thế gian, ở đoạn 5, sống đức ái trọn hảo và ở đoạn 6 sống đức tin chân thực và đức cậy trông vững vàng. Thế nhưng, ở đoạn 7 của Phúc Âm Thánh Mathêu là Phúc Âm thuật lại Bài Giảng Trên Núi của Người ở 3 đoạn 5-7, Người cũng không quên huấn dụ các vị về những ǵ là cơ bản nhất liên quan đến trực tiếp bản thân làm người của các vị, như thế Người muốn nói rằng các nhân đức về con người là điều kiện bất khả thiếu để sống 3 thần đức hợp với tư cách và thân phận làm con cái của Thiên Chúa và là môn đệ của Người.

 

4 luân đức cũng là 4 nhân đức trụ này được Chúa dạy trong bài Phúc Âm hôm nay thứ tự như sau:

 

Nhân đức khôn ngoan: "Đừng lấy của thánh mà cho chó, và đừng vất ngọc trai trước mặt heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi quay lại cắn xé các con".

 

Nhân đức công bằng: "Tất cả những ǵ các con muốn người ta làm cho các con, th́ chính các con hăy làm cho người ta như thế! Đấy là điều mà lề luật và các tiên tri dạy".

 

Nhân đức can đảm: "Hăy vào qua cửa hẹp... cửa và đường đưa tới sự sống th́ chật hẹp, và ít kẻ t́m thấy".

 

Nhân đức tiết độ: "Hăy vào qua cửa hẹp, v́ cửa rộng và đường thênh thang là lối đưa đến hư mất, và có nhiều kẻ đi lối ấy"

 

Tuy nhiên, nếu trong 4 luân đức này nhân đức đầu tiên được liệt kê và quan trọng nhất cùng cần thiết nhất đó là nhân đức khôn ngoan, như đèn soi chiếu cả thân thể, bất khả thiếu, bằng không, không thể thực hành được 3 nhân đức trụ c̣n lại. Sau đây là 3 nguyên tắc sống khôn ngoan để có được hay để thực hành trọn vẹn 4 nhân đức trụ của con người, như sau:

 

Nguyên tắc thứ nhất: "Đừng lấy của thánh mà đem cho chó, và đừng vất ngọc trai trước mặt loài heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi quay lại cắn xé các con". 

 

Tại sao vậy? Tại v́ chó hay heo là loài thú vật chẳng biết giá trị của những ǵ loài người vốn trân quí. Bởi thế, "lấy của thánh mà đem cho chó, và vất ngọc trai trước mặt loài heo" là một hành động hoàn toàn ngu xuẩn, phí của và vô ích, thậm chí c̣n nguy hiểm đến bản thân nữa là đàng khác, ở chỗ chúng cứ tưởng là chúng bị tấn công bằng các viên ngọc trai chẳng khác ǵ những cục đá vậy, nên chúng có thể "quay lại cắn xé các con".

 

Ở đây, nếu chú ư chúng ta thấy được hai con thú tiêu biểu được Chúa Giêsu sử dụng trong bài Phúc Âm, đó là con chó và con heo: "chó" có vẻ tinh khôn hơn nên liên quan đến "của thánh" linh thiêng và đến động từ "cho" có vẻ trân trọng chứ không phải là động từ "quẳng" có vẻ khinh bỉ; c̣n "heo" có vẻ xác thịt hơn nên liên quan đến "ngọc trai" là những ǵ thuần vật chất và đến động từ "quẳng"


Nhưng dù tinh khôn như "chó" cũng chẳng biết "của thánh" là ǵ, cũng chẳng nhờ đó mà được linh thiêng hơn, và cho dù xác thịt như "heo" cũng chẳng cần trang điểm bằng "ngọc trai" cho đẹp hơn và hănh diện hơn. Phải chăng ở đây Chúa Giêsu muốn nói với các môn đệ rằng giáo huấn của Người là những ǵ "thánh hảo" vô giá và quí báu hơn cả vàng bạc và "ngọc trai", được ban cho các vị để các vị mặc lấy và trang sức cho xứng với vai tṛ là môn đệ của Người?

 

Nguyên tắc thứ hai: "Vậy tất cả những ǵ các con muốn người ta làm cho các con, th́ chính các con hăy làm cho người ta như thế! Đấy là điều mà lề luật và các tiên tri dạy". 

 

Nguyên tắc thứ hai này là nguyên tắc "tri kỷ tri bỉ - biết ḿnh biết người", có vẻ tích cực hơn nguyên tắc của Khổng giáo: "đừng làm cho người khác những ǵ ḿnh không muốn họ làm cho ḿnh". 

 

Nguyên tắc thứ hai này thường được gọi là luật vàng - golden rule, v́ nó chất chứa trong tất cả "lề luật và các tiên tri dạy", v́ nó phản ảnh giới luật bác ái "yêu người như thể thương thân - ái nhân như kỷ": yêu nhau như bản thân ḿnh. 

 

Nguyên tắc này thật sự là "của thánh", là viên "ngọc trai" quí báu đối với những ai kính sợ Chúa, nhưng lại là những ǵ quái gở đối với những kẻ gian ác bất chấp thủ đoạn trong mưu đồ thỏa măn ư riêng và đam mê nhục dục của họ, dù giá phải trả cho những ǵ họ muốn chiếm đoạt chính là tha nhân.

 

Tổ phụ Abram trong bài đọc 1 hôm nay (Khởi Nguyên 13:2,5-18) đă áp dụng nguyên tắc "ái nhân như kỷ" này khi để cho Lot cháu của ông chọn trước phần đất nó thích, hơn là chính ông chọn trước để cho cháu phần ông không thích: 

 

"Bác không muốn có sự bất b́nh giữa bác và cháu, giữa các người chăn chiên của chúng ta, v́ chúng ta là anh em với nhau. Trước mặt cháu có cả một miền rộng răi, xin cháu hăy ĺa khỏi bác: nếu cháu đi bên tả, th́ bác sẽ đi bên hữu; nếu cháu chọn phía tay phải, th́ bác sẽ đi về phía tay trái".

 

Nguyên tắc thứ ba: "Các con hăy vào qua cửa hẹp, v́ cửa rộng và đường thênh thang là lối đưa đến hư mất, và có nhiều kẻ đi lối ấy; cửa và đường đưa tới sự sống th́ chật hẹp, và ít kẻ t́m thấy".

 

Đúng thế, muốn sống nguyên tắc thứ hai là yêu nhau như chính bản thân ḿnh, con người cần phải bỏ ḿnh đi, thậm chí cần phải coi người khác hơn ḿnh. Như vậy th́ chẳng khác nào con người cần phải "vào qua cửa hẹp", hoàn toàn đi ngược chiều với đa số phàm nhân luôn coi ḿnh hơn tha nhân, không bao giờ chịu thua thiệt, nếu bị thua thiệt th́ t́m cách triệt hạ đối phương hay lấy lại. 

 

Có thể nói, giáo huấn Phúc Đức Trọn Lành trong Bài Giảng Trên Núi của Chúa Kitô trong Phúc Âm Thánh kư Mathêu, nhất là ở đoạn 5, liên quan đến Đức Ái Trọn Hảo, là "cửa và đường đưa tới sự sống", nhưng "chật hẹp" , phải có ơn Chúa mới có thể theo đuổi, phải sống đức tin mới có thể đi trọn, phải sống nội tâm mới có thể làm chủ bản thân ḿnh và theo đúng đường lối của Thiên Chúa, bằng không, Kitô hữu cũng thuộc về đám đông, thành phần sống theo tự nhiên, chỉ t́m cầu những ǵ là dễ chịu nhất và thoải mái mất, nhưng lại là những ǵ dễ trở thành dịp tội khiến con người hư đi: "cửa rộng và đường thênh thang là lối đưa đến hư mất, và có nhiều kẻ đi lối ấy".

 

Bởi thế nên Kitô hữu môn đệ đích thật của Chúa Kitô phải là những con người "hăy qua cửa hẹp mà vào", phải thuộc về thành phần thiểu số, "ít người đi" - "ít kẻ t́m thấy", thành phần dám sống dị chúng nhân, không theo đám đông, thậm chí bất chấp đám đông, bất chấp ư thức hệ hay áp lực của đám đông, bất chấp chống đối và chống phá của họ, xuất phát từ thành kiến và ác cảm của họ trước những tâm tưởng, ngôn từ, tác hành và phản ứng phúc đức trọn lành phản thế gian và vượt trên thế gian để soi chiếu thế gian của ḿnh.

 

Thật vậy, về phương diện siêu nhiên, chính v́ "cửa và đường đưa tới sự sống th́ chật hẹp" như thế mà những ai hiên ngang tiến bước mới gặp "sự sống", mới trở nên dồi dào, như trường hợp tổ phụ Abram nhờ nhường cho cháu mà được Chúa chúc phúc: 

 

"Sau khi Lót đi rồi, Chúa phán cùng Abram rằng: 'Hăy ngước mặt lên và từ nơi ngươi đang ở, hăy nh́n tứ phía: đông tây nam bắc. Tất cả đất mà ngươi trông thấy, Ta sẽ ban vĩnh viễn cho ngươi và ḍng dơi ngươi. Ta sẽ làm cho con cháu ngươi đông như bụi đất. Nếu ai có thể đếm được bụi đất th́ mới có thể đếm được con cháu ngươi. Hăy chỗi dậy và đi khắp miền này, v́ chưng Ta sẽ ban miền này cho ngươi'".  

 

Thánh Vịnh 14 (2-3ab,3cd-4ab,5) ở Bài Đáp Ca hôm nay đă diễn tả về con người sống luật vàng như tổ phụ Abram này như sau: 

 

1) Người sống thanh liêm và thực thi công chính, và trong ḷng suy nghĩ điều ngay, và lưỡi không bịa lời vu khống.  

 

2) Người không làm ác hại đồng liêu, cũng không làm nhục cho ai lân cận. Người coi rẻ đứa bất nhân, nhưng kính yêu những ai tôn sợ Chúa. 

 

3) Người không xuất tiền đặt nợ thu lời, cũng không ăn hối lộ hại người hiền lương. Người thực thi những điều kể đó, th́ muôn đời chẳng có lung lay. 
 

 


 

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên


 
TN.XII-3.mp3